Văn miếu Xích Đằng

16:29 09/03

Một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu có giá trị là văn miếu Xích Đằng tại phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, biểu tượng về học vấn của nền văn hiến Hưng Yên.

 
 
 
Văn miếu Xích Đằng là một trong 6 văn miếu còn tồn tại trong cả nước- được khởi dựng từ thế kỷ 17 (thời hậu Lê) quy mô ban đầu còn nhỏ, đến năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), triều Nguyễn, được xây dựng lại có quy mô như hiện nay trên nền của chùa Nguyệt Đường. Ngôi chùa lớn, tương truyền có 36 nóc, được Hương Hải thiền sư khởi dựng năm 1701, với sự trợ giúp của quan trấn thủ trấn Sơn Nam khi đó là Quận công Lê Đình Kiên.
 
Dấu tích còn lại đến ngày nay là 2 mộ tháp đá: Phương Trượng Tháp và Tịnh Mãn Tháp. Năm 1992, Văn miếu Xích Đằng được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá quốc gia.
 
Đây là nơi thờ Khổng Tử, người được mệnh danh là “ người thày tiêu biêu của muôn đời" và Chu Văn An, thày giáo mẫu mực của nước

Nam ở triều Trần.
Toàn bộ khuôn viên Văn miếu có diện tích rộng gần 6 ha, nhìn ra hướng nam, phía trước là đầm Vạc, bên cạnh phía tây là hồ Văn. Nhìn toàn cảnh kiến trúc công trình đồng bộ và liền mạch, gồm các hạng mục được bố trí liên hoàn như: tam quan, nhà tả vu, nhà hữu vu, tòa đại bái, trung từ và tòa hậu cung.
 
Từ điển Địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam của Nguyễn Như Ý và Nguyễn Thành Chương ghi rõ: văn miếu Xích Đằng là một trong 6 văn miếu còn tồn tại cho đến ngày nay của đất nước, là một trong hai văn miếu lâu đời nhất (đứng sau văn miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội) còn tồn tại.
 
 
 
 
Khi đến thăm văn miếu Xích Đằng, qua hồ Văn, đầm Vạc được trang điểm bởi đặc sản Hưng Yên là nhãn và sen, quang cảnh đầu tiên mà ta gặp là hình ảnh quen thuộc với sự hiện diện của 2 cây gạo cổ thụ hàng trăm năm tuổi, đứng trước tam quan, hay còn gọi là Nghi môn. Đây là một trong những công trình còn giữ được những nét kiến trúc độc đáo trong các văn miếu còn lại ở Việt
Nam. Được dựng theo lối kiến trúc chồng diêm, hai tầng tám mái có lầu gác.
 
Hai bên tam quan có hai bục loa, dùng để xướng danh sĩ tử và thông báo những quy định trong các kỳ thi hương trước đây.
 

Thay vì lầu trống như ở các Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội hay Văn miếu Mao Điền, của Hải Dương, thì ở Văn miếu Xích Đằng, lầu trống được thay vào bằng lầu chuông và lầu khánh. Tiếng chuông và tiếng khánh vang lên chính là lúc báo hiệu giờ thi đã bắt đầu và kết thúc, đồng thời nó cũng là tiếng cầu thỉnh tỏ lòng biết ơn, tri ân với những bậc hiền nho trong mỗi dịp lễ hội. Hai chiếc chuông và khánh đá của văn miếu cũng là những di vật cổ được đúc và tạo dựng từ thế kỷ 18.
 
Qua Nghi môn, phía trong cổng sân rộng, ở giữa sân là đường thập đạo, hai bên sân ngoài lầu chuông và lầu khánh 2 dãy tả vu, hữu vu. Hai dãy nhà này hiện  được dùng để trưng bày các hình ảnh và hiện vật liên quan đến giáo dục và các di tích lịch sử của  tỉnh Hưng Yên.
 
Khu nội tự văn miếu có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam, bao gồm: tiền tế, trung từ và hậu cung, kiến trúc giống nhau, được làm theo kiểu vì kèo trụ trốn. Hệ thống mái được kết cấu theo kiểu “trùng thiềm địa ốc”. Mặt chính quay về hướng nam. Bên trong khu nội tự tỏa sáng với hệ thống các đại tự, câu đối, cửa võng và một hệ thống các trụ cột, kèo được sơn son thếp vàng. Ngoài các đồ thờ tự, hiện vật quý giá nhất trong văn miếu còn lưu giữ được đến ngày nay đó chính là 9 tấm bia đá khắc ghi tên tuổi, quê quán, chức vụ của 161 vị đỗ đại khoa ở trấn Sơn Nam thượng xưa. Trong đó có 138 vị  quê Hưng Yên và 23 vị ở Thái Bình.
 
 
 
 
Thế kỷ 17, để chấn hưng lại nền Nho học, triều đình đã cho thành lập nhiều trường học bên ngoài trường Quốc Tử Giám. Ở trấn Sơn Nam (gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và một phần đất của Hà Nội và Hưng Yên) văn miếu Sơn Nam (văn miếu Xích Đằng khi đó) được xây dựng vừa làm nơi để thờ tự các bậc hiền nho, vừa là nơi tổ chức các kỳ thi của trấn. Sử sách còn ghi: Văn miếu Xích Đằng đã có lần là trường thi của khoa thi Hương, hoặc là nơi sát hạch học trò để đi thi Hương. Nhà bác học Lê Quý Đôn, đã dự kỳ thi hương ở Hưng Yên hồi ấy”
 
Sau nhiều biến chuyển trong việc chia tách lại địa lý và đơn vị hành chính các trấn dưới các triều: Hậu Lê, Tây Sơn, nhà Nguyễn, văn miếu Xích Đằng trở thành văn miếu của trấn Sơn Nam và sau này là của tỉnh Hưng Yên.
 
Từ các khoa thi đầu tiên đến khoa thi cuối cùng vào cuối thời nhà Nguyễn của nền học vấn phong kiến trước đây, tỉnh Hưng Yên đều có người đỗ đạt cao. Thời nào cũng có người tài của đất Hưng Yên đỗ đạt ra giúp nước. Trong đó có những dòng họ hiếu học và đỗ đạt cao như: Dòng họ Dương ở xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, dòng họ Lê Hữu ở Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, dòng họ Nguyễn Trung ở Thổ Hoàng, huyện Ân Thi.v.v. Học vị cao nhất được ghi danh ở các bia đá còn lưu lại là trạng nguyên Tống Trân, thời nhà Trần; trạng nguyên Nguyễn Kỳ, triều nhà Mạc; trạng nguyên Dương Phúc Tư, triều nhà Lê. Chức vụ cao nhất được biết đến là tiến sĩ Lê Như Hổ, quận công triều nhà Mạc…
 
Ngay từ khi được xây dựng vào thế kỷ 17 dưới thời Lê và đến hết thời nhà Nguyễn sau này, văn miếu Xích Đằng là nơi tổ chức các kỳ thi, bái tế các bậc hiền nho vào mỗi dịp “xuân thu nhị kỳ” hằ̀ng năm như: ngày mùng 10 tháng giêng và 14 tháng 8 âm lịch, các chức sắc đầu tỉnh và nho sinh của toàn trấn Sơn Nam và tỉnh Hưng Yên sau này tổ chức tế lễ, đồng thời thi bình văn.
 
 
 
 
Nối tiếp truyền thống của vùng đất hiếu học và văn hiến, sau ngày tái lập tỉnh Hưng Yên năm 1997, văn miếu Xích Đằng tiếp tục là nơi hàng năm diễn ra các hoạt động văn hóa, giáo dục trọng đại và có ý nghĩa của thành phố Hưng Yên và của tỉnh Hưng Yên như: các hoạt động thư pháp, hát ca trù đầu xuân, tổ chức ngày thơ Việt Nam, vinh danh và phát thưởng cho học sinh đỗ đạt cao, có thành tích học tập tốt.
 
Ở văn miếu Hưng Yên hiện tại đang thờ hai pho tượng của Đức Khổng Tử và các bậc chư hiền nho gia. Cùng với đó là pho tượng của người thầy giáo lỗi lạc, người hiệu trưởng đầu tiên của văn miếu Quốc Tử Giám Chu Văn An. Khác với cách bài trí của các văn miếu khác, ở văn miếu Hưng Yên, tượng Chu Văn An được đặt thờ ngay ở phía giữa khu đại bái, còn tượng Đức Khổng Tử và các vị chư hiền nho gia được đặt thờ trong phần hậu cung. Điều này cho thấy sự kính trọng, vinh danh tấm lòng, đức độ người thầy lỗi lạc muôn đời của nền giáo dục Việt
Nam mang tên Chu Văn An.
 
Trải qua hàng trăm năm tồn tại, văn miếu Hưng Yên vẫn luôn là biểu tượng của tinh thần hiếu học và nền văn hiến Hưng Yên, trở thành địa chỉ quen thuộc của du khách gần xa khi đến thăm Phố Hiến. Đó cũng là niềm tự hào của mỗi người con xứ nhãn khi được sinh ra, lớn lên trên quê hương văn hiến, cách mạng anh hùng.
 
 
Hùng Xướng
 

Bình luận

Tối thiểu 10 chữ Tiếng việt có dấu Không chứa liên kết

Gửi bình luận

Tin cùng chuyên mục

Phó Đức Chính – người anh hùng hiên ngang lên máy chém
Phó Đức Chính sinh năm 1907, người làng Đa Ngưu (nay thuộc xã Tân Tiến) huyện Văn Giang, xuất thân trong một gia đình Nho học. Ông học trường Cao đẳng Công chính Hà Nội.
Dương Phúc Tư sinh năm 1505, người xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm. Ông thân sinh là Dương Phúc Hưng đỗ cử nhân, làm quan chức Thị giảng học sĩ.
Theo sắc phong và tộc phả, bà Chúa Mụa tên là Trần Thị Cư, quê quán làng Mụa (thôn Cộng Vũ) xã Vũ Xá, huyện Kim Động ngày nay.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh - người khởi xướng công cuộc đổi mới
Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1/7/1915 (19/5 Ất Mão) tại làng Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ.
Trái trang 1 - Trang chủTrái trang 1 - Trang chủTrái trang 1 - Trang chủ
Trái trang 4 - Trang chủTrái trang 4 - Trang chủ