Hội thảo khoa học “Hưng Yên - Lịch sử, truyền thống và phát triển”

00:00 24/11

Chào mừng kỷ niệm 180 năm thành lập tỉnh, 70 năm thành lập Đảng bộ tỉnh và 15 năm tái lập tỉnh Hưng Yên. Ngày 22/11, tỉnh Hưng Yên phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức Hội thảo.


 

 
Toàn cảnh hội thảo

Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Trưởng Ban tổ chức Hội thảo; Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hào, phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hưng Yên và Tiến sĩ Nguyễn Đình Nhã, nguyên giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Hải Hưng đồng Trưởng ban tổ chức hội thảo.

Hội thảo đã thu hút gần 30 ý kiến tham luận của các đại biểu, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu từ Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện Sử học Việt Nam, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Cục Di sản Văn hóa Bộ VH – TT & Du lịch, Viện Chiến lược Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, cùng các đại biểu, nhà nghiên cứu của tỉnh Hải Dương và Hưng Yên.

Hưng Yên - vùng đất địa linh nhân kiệt

Trong lời khai mạc của ông Nguyễn Khác Hào, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hưng Yên đã nêu rõ: Hưng Yên vốn là vùng đất phù sa cổ được hình thành từ hàng vạn năm về trước, tích tụ một bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa đậm nét; là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có diện tích trên 923km2, dân số gần 1,2 triệu người, gồm 10 huyện/thành phố, với 161 xã, phường, thị trấn.


Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hào phát biểu chào mừng hội thảo

Thế kỷ 16- 17, Phố Hiến Hưng Yên là trung tâm của Trấn Sơn Nam, là chốn phồn hoa đô hội - một tiểu Tràng An, nức danh "Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Hưng Yên là vùng đất địa linh, nhân kiệt, văn hiến và cách mạng. Trong các giai đoạn của lịch sử đất nước, thời nào Hưng Yên cũng có người tài giỏi trên các lĩnh vực làm dạng danh cho quê hương, đất nước, được sử sách ghi nhận.

Mùa thu năm 1831, Vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính lớn, xóa bỏ các dinh trấn, lập ra các tỉnh, Hưng Yên được xác lập tên gọi hành chính cấp tỉnh từ đó. Từ khi có Đảng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ kính yêu, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh đấu tranh giành chính quyền; giữ vững chính quyền cách mạng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; lãnh đạo nhân dân khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển văn hóa, xã hội; lãnh đạo công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và thực hiện đường lối đổi mới của Đảng; lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thu được những thành tựu quan trọng, nhất là từ khi tái lập tỉnh đến nay.


Giáo sư Phan Huy Lê chủ tọa cuộc hội thảo

Báo cáo đề dẫn tại hội thảo, Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử, Trưởng Ban tổ chức hội thảo khẳng định: Hội thảo khoa học lần này do UBND tỉnh Hưng Yên phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức nhân dịp 180 năm thành lập tỉnh, 70 năm thành lập Đảng bộ tỉnh và 15 năm tái lập tỉnh Hưng Yên. Đó là dấu mốc trọng yếu trên con đường ra đời, tồn tại và phát triển của tỉnh Hưng Yên. Những điều đó không có nghĩa là coi lịch sử Hưng Yên chỉ bắt đầu từ năm 1831. Đó là những cột mốc quan trọng, nhưng lịch sử tỉnh Hưng Yên cần ngược lên quá khứ xa xưa hơn khi con người xuất hiện trên vùng đất nay là địa phận tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên là một tỉnh nằm giữa vùng châu thổ Sông Hồng và liền kề với thủ đô Hà Nội. Cảnh quan thiên nhiên nổi bật của Hưng Yên là đất đai bằng phẳng không có núi rừng, không có bờ biển, gò đất cao nhất chỉ khoảng 8m so với mực nước biển. Lợi thế của vùng đất này là nằm bên tả ngạn sông Hồng, trục giao đường thủy nối liền với những trung tâm của đất nước từ Phong Châu (mà trung tâm là vùng Việt Trì)của nước Văn Lang thời dựng nước đến kinh thành Thăng Long của đất nước Đại Việt thời Lý (1009- 1225) Trần (1226 - 1400), Hồ (1400 - 1407), Lê Sơ (1428 - 1527), Mạc (1527- 1792), Lê Trung hưng (1593- 1788) và Thủ đô Hà Nội của nước Việt Nam hiện đại. Hưng Yên không có bờ biển thì dòng sông Hồng và qua sông Luộc nối với hệ thống sông Thái Bình, mở ra những đường giao thông nối Hưng Yên với các cửa biển và các hành trình đường biển quốc tế của khu vực Đông Á, Đông Nam Á và thế giới.

Vùng châu thổ sông Hồng được hình thành trực tiếp từ sau đợt biển lùi cách ngày nay khoảng 4.000 năm. Biển lùi dần và quá trình lắng đọng phù sa bồi tụ nên bề mặt châu thổ từ đỉnh Việt Trì tiến xuống đến vùng thượng châu thổ rồi hạ châu thổ. Cũng từ đó, con người từ các vùng đồi núi, chân núi tràn xuống khai phá đất đai, mở mang xóm làng, phát triển nông nghiệp trồng lúa nước.

Những di tích văn hóa Đông Sơn tìm thấy trên đất Hưng Yên chứng tỏ con người đã có mặt trên vùng đất này các đây khoảng 3.000 năm. Vùng đất Hưng Yên nằm trong địa bàn của nước Văn Lang và lịch sử Hưng Yên bắt đầu từ thời dựng nước cho đến tận ngày nay. Trước khi tỉnh Hưng Yên thành lập, vùng đất này là một số huyện của Châu Đằng thời Ngô, phủ Thái Bình thời Tiền Lê, Châu Đằng hay châu Khoái hay lộ Khoái thời Lý, Trần, phủ Khoái Châu thuộc thừa tuyên - Trấn Sơn Nam thời Lê, rồi Sơn Nam thượng thời Lê Trung Hưng, trấn Sơn Nam thời Nguyễn.

Như vậy hội thảo này vừa tập trung vào 180 năm tỉnh Hưng Yên, vừa bao quát toàn bộ bề dày lịch sử vùng đất Hưng Yên từ 3000 năm trước.

Qua tiến trình lịch sử lâu dài đó và trong bối cảnh chung của lịch sử đất nước, cộng đồng cư dân sống trên vùng đất Hưng Yên đã viết lên những trang sử hào hùng, để lại một di sản văn hóa phong phú và vun đắp nên nhiều truyền thống quý giá của quê hương.

Trên đất Hưng Yên đã từng tồn tại một số trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa nổi tiếng.

Đó là vùng Xích Đằng vốn là địa bàn của thủ lĩnh Phạm Bạch Hổ (hay Phạm Phòng Át) đã từng tham gia kháng chiến chống Nam Hán lập nên vũ công Bạch Đằng năm 938, sau trở thành một sứ quân rồi hàng phục Đinh Tiên Hoàng và là Thân vệ tướng quân của triều Đinh. Tại đây còn di tích Văn Miếu của trấn Sơn Nam Thượng rồi của tỉnh Hưng Yên.

Đó là thương cảng Phố Hiến một thời nổi tiếng của cả nước, phát triển nhất trong thời kỳ mở mang của mậu dịch quốc tế thế kỷ XVI- XVII. Tại đó có phố phường của cư dân đô thị, có thương điếm của nước ngoài, có quan hệ thương mại với nhiều nước trên thế giới. Phố Hiến giữ vai trò tiền cảng của kinh thành Thăng Long và là trụ sở của Hiến Ty, trấn Sơn Nam.

Thành phố Hưng Yên ngày nay bao gồm cả hai trung tâm trên, đang kế thừa và phát triển những di sản đô thị truyền thống đó.

Trong lịch sử chống ngoại xâm, Hưng Yên có Triệu Quang Phục với căn cứ Dạ Trạch, có Phạm Ngũ Lão trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông thời Trần, có Nguyễn Thiện Thuật với căn cứ Bãi Sậy trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Hưng Yên có những người con anh hùng như Tô Hiệu, Bùi Thị Cúc, các tướng lĩnh như: Nguyễn Bình, Nguyễn Hòa, Hoàng Minh Thảo...

Hưng Yên là vùng đất hiếu học, có nhiều làng khoa bảng, nhiều dòng họ khoa bảng với số người đỗ đại khoa khá nhiều. Tại văn miếu Xích Đằng còn tấm bia năm 1889 ghi tên 102 người đỗ tiến sĩ và tương đương, bia năm 1943 bổ sung thêm 57 người đỗ đại khoa. Theo thống kê sơ bộ, Hưng Yên có 204 tiến sĩ và tương đương thời chế độ khoa cử Nho học. Truyền thống đó được phát huy đến ngày nay với số Tiến sĩ, Phó Giáo sư, Giáo sư khá đông.

Trên các lĩnh vực văn hóa, khoa học, Hưng Yên có những tên tuổi như: Nguyễn Trung Ngạn, Lê Hữu Trác, Đoàn Thị Điểm, Chu Mạnh Trinh.... cùng nhiều nhà văn hiện đại như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Dương Quảng Hàm...

Trên lĩnh vực chính trị, Hưng Yên đóng góp cho đất nước những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng như Lê Văn Lương, Tổng Bí thư thời đổi mới Nguyễn Văn Linh.

Hưng Yên còn lưu giữ một di sản văn hóa đồ sộ với 1.210 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có 159 di tích được xếp hạng quốc gia và 153 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Về văn hóa phi vật thể, Hưng Yên có khoảng 400 lễ hội cùng nhiều làn điệu dân ca, một kho tàng phong phú của văn học dân gian.

Hưng Yên còn có nhiều nghề thủ công, trong đó có nghề đúc đồng Cầu Nôm và nghề khắc ván in Liễu Tràng nổi tiếng cả nước. Trong số đặc sản của Hưng Yên cũng có nhiều sản phẩm danh tiếng, đặc biệt là nhãn lồng Phố Hiến.

Lịch sử thuộc về quá khứ, đã ra đi không bao giờ lặp lại. Nhưng lịch sử lại gắn bó mật thiết với hiện tại và tương lai. Trên cơ sở nhận thức đúng lịch sử, chúng ta mới hiểu được sự vận động của cuộc sống hôm nay và dự đoán hướng phát triển mai sau trong dòng chảy liên tục của lịch sử. Hơn nữa lịch sử còn để lại biết bao bài học và kinh nghiệm, kể cả thành công và thất bại. Bao trùm lên tất cả là lịch sử để lại di sản văn hóa vô giá, tạo nên các truyền thống gắn liền với các thế hệ con người hôm nay. Từ cách tiếp cận của nhiều chuyên ngành, nhiều nhà khoa học, hội thảo khoa học sẽ nâng cao thêm nhận thức theo hướng tạo nên sự gắn kết, tương tác chặt chẽ giữa lịch sử, truyền thống và phát triển, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển bền vững của quê hương Hưng Yên.

Nhiều vấn đề đặt ra trong nghiên cứu lịch sử, văn hiến Hưng Yên

Hội thảo đã nhận được 27 tham luận của các nhà nghiên cứu của Trung ương và của các sở, ngành của tỉnh, trong đó có 8 tham luận được trình bày tại hội thảo. Các tham luận tập trung vào 5 vấn đề chính: Hưng Yên qua các thời kỳ lịch sử, Hưng Yên – truyền thống đấu tranh yêu nước và cách mạng, Hưng Yênđổi mới và phát triển, Hưng Yên – Vùng đất địa linh nhân kiệt, Hưng Yên vươn lên cùng cả nước.


Nhà nghiên cứu Tăng Bá Hoành

Tham luận "Hưng Yên qua các di sản Hán Nôm, các di chỉ khảo cổ học" của nhà nghiên cứu Tăng Bá Hoành, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Hưng, khái quát công tác khảo cổ học trên đất Hưng Yên được thực hiện trên nhiều lĩnh vực: cổ sinh học, mộ cổ qua các thời, kiến trúc, cổ vật, văn bản học, nghề cổ truyền, tôn giáo, tín ngưỡng...Văn bản học ở đây chủ yếu là văn bản Hán Nôm trên các cổ vật, đồ tế tự, sắc phong, câu đối, đại tự,...căn bản là bia ký. Đây là loại hình văn bản đặc biệt. Bản thân tấm bia là một cổ vật, nhiều bia có giá trị điêu khắc nghệ thuật mang đặc điểm từng thời đại, vì vậy, dù không có niên đại tuyệt đối chúng ta vẫn tìm ra niên đại tương đối nhờ hoa văn, tự dạng và nội dung văn bản. Bản thân văn bản là tiếng nói trực tiếp của tiền nhân để lại cho thế hệ sau, là những cột mốc lịch sử chuẩn xác về không gian và thời gian, đó là cơ sở khoa học vững chắc và hấp dẫn để chúng ta biên soạn lịch sử địa phương cũng như của đất nước qua từng thời đại.


Tiến sĩ Dương Văn Sáu

Tại hội thảo, Tiến sĩ Dương Văn Sáu, Trưởng khoa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tham luận chủ đề: "Trấn thành Sơn Nam và Văn miếu Xích Đằng - nơi hội tụ của truyền thống hiếu học Hưng Yên" trong đó có đi sâu lột tả: Văn miếu Hưng Yên được lập vào năm 1803 – 1804 trên nền cũ của khu vực chùa Nguyệt Đường nằm  trên địa bàn làng Xích Đằng. Vào thời điểm tạo lập, Văn miếu Xích Đằng là Văn miếu của trấn Sơn Nam thượng theo phân cấp tổ chức hành chính đầu thời Nguyễn dưới thời vị vua đầu triều Gia Long, sau khi thành lập tỉnh Hưng Yên vào năm 1831. Điều này phù hợp với câu mở đầu trong tấm bia dựng năm Bảo Đại thứ 18 (1943) do Tổng đốc Hưng Yên là Dương Thiệu Tường cho lập: “Đằng Thành Văn miếu kiến tỉnh sơ cung tường cổ hĩ. Văn miếu Đằng Thành xây dựng từ khi mới thành lập tỉnh, trên nền của di tích cổ (khác) – tức chùa Nguyệt Đường”. Tám năm sau khi thành lập tỉnh Hưng Yên, Văn miếu Xích Đằng được tiến hành tu sửa lớn vào năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) theo chiếu lệnh của triều đình như lời ghi trong Đại Nam nhất thống chí.

Tham luận "Hưng Yên - đất học" của Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Viết Thịnh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng khái quát về truyền thống hiếu học xuyên suốt lịch sử Hưng Yên từ xưa đến nay.


Ông Vũ Văn Toàn

Ông Vũ Văn Toàn, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hưng Yên tham luận về "70 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên". Phó Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Đức Nhuệ, Viện sử học Việt Nam tham luận: "Một vài khái quát về giáo dục khoa cử Hưng Yên thời phong kiến".


Đại tá Hà Mạnh Khoa

Tham luận "Phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược ở Hưng Yên từ năm 1883 đến cách mạng tháng 8 năm 1945" của tiến sĩ Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam nêu rõ: Bãi Sậy là một trong những trung tâm chống Pháp lớn nhất hồi cuối thế kỷ XIX. Phong trào Bãi Sậy bắt đầu hình thành từ 1883 và kéo dài đến 1892.

Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp trong thời kỳ đầu (1883-1885), ở tỉnh Hưng Yên nổi lên phong trào kháng Pháp do Đinh Gia Quế lãnh đạo, địa bàn lúc này còn giới hạn ở vùng Bãi Sậy (bao gồm địa phận các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ của tỉnh Hưng Yên).

Từ 1885 trở đi, vai trò lãnh đạo thuộc về Nguyễn Thiện Thuật. Ông là thủ lĩnh cao nhất của nghĩa quân Bãi Sậy. Dưới danh nghĩa Cần vương, Nguyễn Thiện Thuật đã tập hợp nhiều đội quân nhỏ trong vùng và các địa phương lân cận, hình thành một phong trào có quy mô lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ lúc đó. Phong trào mở rộng khắp hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và một phần các tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Yên. Ngoài căn cứ Bãi Sậy, còn có căn cứ Hai Sông (thuộc huyện Kinh Môn, Hải Dương), là căn cứ lớn thứ hai của nghĩa quân, do Nguyễn Xuân Tiết (Đốc Tít) xây dựng. Từ căn cứ này, nghĩa quân toả ra hoạt động trên các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Yên.

Vận dụng phương pháp đánh giặc truyền thống của cha ông trước một đối thủ mạnh, nghĩa quân Bãi Sậy không tổ chức thành các đội quân lớn, mà phân tán thành các đội quy mô nhỏ cùng lúc hoạt động rải rác khắp nơi.

Trong suốt gần mười năm hoạt động, nghĩa quân Bãi Sậy đã làm cho Pháp nhiều phen khiếp vía, khốn đốn trong việc bình định và đặt ách thống trị ở các vùng thuộc đồng bằng sông Hồng. Các hoạt động vũ trang của nghĩa quân không chỉ trực tiếp làm tiêu hao sinh lực địch, mà còn làm cho chính quyền tay sai vô cùng hoảng sợ. Một số quan lại sợ hãi đã phải trao lại quyền hành cho lực lượng kháng chiến. Ở những vùng chính quyền địch rệu rã, nghĩa quân hầu như làm chủ. Chính bọn thực dân đã phải thừa nhận rằng quyền cai trị ở nhiều nơi không còn nằm trong tay các quan lại, mà thuộc về nghĩa quân.


Tiến sĩ Nguyễn Đình Nhã

Tiến sĩ Nguyễn Đình Nhã, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa thông tin Hải Hưng tham luận về "Những vấn đề đặt ra sau Hội thảo Phố Hiến" Trong đó ông đóng góp những ý kiến sâu sắc những vấn đề đặt ra sau Hội thảo khoa học về Phố Hiến năm 1992: Còn khá nhiều vấn đề nêu ra tại Hội thảo cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời xác đáng, ví dụ như nguyên nhân nội sinh, ngoại sinh dẫn đến sự hình thành Phố Hiến, đó là nguyên nhân về địa lý hay là về lịch sử xã hội là chủ yếu. Quá trình phát triển của Phố Hiến từ thời kỳ Đinh, Lê đến giai đoạn cực thịnh của Phố Hiến thế kỷ XVI - XVII, nhất là vị trí của Phố Hiến với tư cách là lỵ sở của trấn Sơn Nam, một trấn đứng đầu của tứ trấn của Kinh đô lúc đó. Qui mô của Phố Hiến và hoạt động thương mại trong nước và nước ngoài ở mức độ nào mà được danh xưng là tiểu Tràng An chỉ đứng sau Kinh đô Thăng Long. Vị trí của Phố Hiến cần được xác định rõ hơn trong khu vực thành phố Hưng Yên hiện nay. Vai trò của Phố Hiến trong hệ thống các đô thị cổ ở nước ta và nhất là ảnh hưởng của nó với tư cách là thương cảng mở cửa, hướng ngoại đến nền kinh tế xã hội Việt Nam lúc đó và giai đoạn sau này. Việc bảo vệ tôn tạo phát huy giá trị văn hóa, lịch sử đô thị cổ Phố Hiến trong xu thế đô thị hóa, hiện đại hóa và mở rộng thành phố Hưng Yên hiện nay. Việc bảo tồn này nên thực hiện theo phương án nào? Nên giữ nguyên hiện trạng, xây mới hay phục hưng một phần Phố Hiến? Việc tiến hành thám sát, khảo cổ các địa điểm chủ yếu của Phố Hiến để có cơ sở nhận diện Phố Hiến qua các phế tích trong lòng đất nên tiến hành ở những địa điểm nào? vào thời điểm nào? trước khi triển khai qui hoạch xây dựng thành phố Hưng Yên…


Nhà văn Đinh Quang Tốn

Đại tá Đinh Quang Tốn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Công an nhân dân tham luận về "Những danh nhân văn học tiêu biểu của Hưng Yên". Đại tá, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hà, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tham luận về "Những nhân vật quân sự tiêu biểu của mảnh đất Hưng Yên".

Tổng kết Hội thảo, Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam, trưởng Ban tổ chức Hội thảo và ông Nguyễn Khắc Hào, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hưng Yên, đồng trưởng Ban tổ chức hội thảo khẳng định: Các tham luận được trình bày tại hội thảo đã chỉ rõ Hưng Yên là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, hiếu học với nhiều danh nhân, tuấn kiệt. Hưng Yên cũng là vùng đất có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hơn nữa trong thời kỳ mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những truyền thống tốt đẹp và những tiềm năng đó được phát huy mạnh mẽ hơn... Những vấn đề nêu ra tại hội thảo lần này chắc chắn sẽ gợi mở nhiều phương cách để trong tương lai Hưng Yên tiếp tục là vùng đất “địa linh, nhân kiệt” với nền văn hóa đặc sắc, nền kinh tế xã hội phát triển.

Trí Dũng
Ảnh: Hoàng Linh

 

Bình luận

Tối thiểu 10 chữ Tiếng việt có dấu Không chứa liên kết

Gửi bình luận
Phó Đức Chính – người anh hùng hiên ngang lên máy chém
Phó Đức Chính sinh năm 1907, người làng Đa Ngưu (nay thuộc xã Tân Tiến) huyện Văn Giang, xuất thân trong một gia đình Nho học. Ông học trường Cao đẳng Công chính Hà Nội.
Dương Phúc Tư sinh năm 1505, người xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm. Ông thân sinh là Dương Phúc Hưng đỗ cử nhân, làm quan chức Thị giảng học sĩ.
Theo sắc phong và tộc phả, bà Chúa Mụa tên là Trần Thị Cư, quê quán làng Mụa (thôn Cộng Vũ) xã Vũ Xá, huyện Kim Động ngày nay.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh - người khởi xướng công cuộc đổi mới
Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1/7/1915 (19/5 Ất Mão) tại làng Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ.
Trái trang 1 - Trang chủTrái trang 1 - Trang chủTrái trang 1 - Trang chủ
Trái trang 4 - Trang chủTrái trang 4 - Trang chủ