Trung tướng Nguyễn Bình – Người cộng sản kiên trung

00:00 22/11

Một người cộng sản kiên trung, một tướng lĩnh quả cảm, nghĩa hiệp, giàu đức hy sinh, lòng dũng cảm và tài thao lược, tất cả những lời đánh giá đó là dành để nói về Trung tướng Nguyễn Bình – người con của quê hương xứ nhãn – vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

 

Trung tướng Nguyễn Bình (

1908 - 1951)

 

 

Nguyễn Bình tên khai sinh là Nguyễn Phương Thảo, quê làng An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ nhưng sống ở thành phố Hải Phòng.

Ông sinh năm 1908 trong một gia đình trung lưu có 5 người con, ông là thứ 4, vóc dáng khỏe mạnh, khuôn mặt cương nghị, tính tình phóng túng. Từ ông toát ra một sự tự tin, một sức mạnh nội tâm được kiềm chế gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đối thoại. Năm 17 tuổi, khi đang học năm thứ 2 trường Trung học Hải Phòng, ông trốn gia đình vào Nam giao du với nhà văn giang hồ Vương Sơn. Sau ông kết thân với nhà văn, nhà báo Trần Huy Liệu bấy giờ là Đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng và trở thành đảng viên tích cực của Đảng này, giữ chức Trưởng ban tổ chức. Năm 1928, xứ bộ Việt Nam Quốc dân Đảng Nam kì được thành lập, hoạt động với tôn chỉ “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”, Nguyễn Bình được bầu vào Ban chấp hành xứ bộ, Trần Huy Liệu giữ chức bí thư.

Năm 1929, ông và Trần Huy Liệu bị bắt, bị kết án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo. Khi ở tù, được tiếp xúc với những đảng viên Đảng cộng sản, ông có thiện cảm với Đảng cộng sản. Chính vì vậy mà ông bị bọn cầm đầu Quốc Dân Đảng thanh trừng, bị khoét mất mắt trái. Cũng từ đó ông nhận ra rằng khẩu hiệu của chủ nghĩa Tam dân thực chất chỉ là khẩu hiện xuông, còn bọn cầm đầu thì theo mục đích: “Vinh thân phì gia”. Và không ngần ngại thủ tiêu những đồng đảng khác chính kiến.

Năm 1935, mãn hạn tù, ông trở về quê nhà. Tuy bị quản thúc nhưng ông vẫn nuôi ý chí cách mạng, bí mật xây dựng Đông Triều làm căn cứ chống Pháp. Khoảng năm 1941 – 1942, ông được tổ chức Đảng và Việt Minh giao cho nhiệm vụ mua vũ khí chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời còn vận động binh lính các đồn Thủy Nguyên, Cửa Ông, thị xã Kiến An cung cấp vũ khí. Nhờ súng dạn nhiều mà Đông Triều trở thành chiến khu vững vàng của chùa Bắc Mã là tổng hành dinh của quân giải phóng chiến khu Đông Triều.

Đêm 12/3/1945, ông tham gia trận đánh trận đồn Bần Yên Nhân, thu được nhiều thắng lợi. Trận đánh đồn Bần được coi là trận đánh kiểu mẫu ở đồng bằng. Tháng 4/1945, Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định cả nước chia làm 7 quân khu, Bắc bộ có 4, ông giữ chức Tư lệnh Đệ tứ quân khu ( tức chiến khu Đông Triều gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Hòn Gia, Móng Cái và Lạng Sơn).

Trong tháng 6, tháng 7 năm 1945, ông chỉ huy nhiều trận đánh lớn, thu được nhiều lương thực và vũ khí, như trận phục kích trên sông Kinh Thầy, trận tấn công đồng loạt 5 đồn Thanh Hà, Kinh Môn, Thủy Nguyên, Uông Bí và Bí Chợ, đặc biệt là trận Quảng Yên. Trong trận này thu được 600 súng trường, 40 súng liên. Thừa thắng ông mang quân đi yểm trợ cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng, sau đó giải phóng Tiên yên, Ba Chẽ, Hòn Gia, Cẩm Phả, Cát Bà.

Do có biệt tài về quân sự, tháng 9/1945, ông được Hồ Chủ tịch cử vào miền Nam lo việc thống nhất các lực lượng vũ trang tại chiến trường Nam bộ, được giao giữu chức Ủy viên quân sự Nam bộ kiêm Khu trưởng khu VII, rồi Tư lệnh mặt trận Nam bộ với toàn quyền quyết định các việc thuộc lĩnh vực quân sự tại Nam bộ. Trong những ngày đầu kháng chiến tình hình Nam bộ hết sức rối ren, phức tạp, có thể ví như thời “Thập nhị sứ quân” – gồm nhiều đảng phái, anh hung hảo hán và phải đối diện với một đội quân viễn chinh hùng hậu. Nguyễn Bình đã tìm mọi cách tập hợp các lực lượng kháng chiến dưới sự chỉ huy chung và nhanh chóng tổ chức một cuộc khánh chiến toàn lực, toàn diện. Đây là một công việc cực kỳ phức tạp, khó khăn, nhưng biết dựa vào sức quần chúng, lấy chính nghĩa thu phục lòng người, ông đã thành công trong sứ mệnh lịch sử này, góp phần thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho ta, kìm hãm, đẩy lùi bước xâm lược của kẻ thù.

Những chiến công buổi đầu của nhân dân Nam bộ được gắn liền với tên tuổi Nguyễn Bình, khiến các giới chính trị, quân sự Pháp cũng phải kính nể.

Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương.

Ngày 25/1/1948, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh phong cho ông quân hàm Trung tướng. Đây là Trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 9/1951, theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc, nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi ông bị giặc phục kích, hy sinh tại biên giới Việt- Miên.

Trung tướng Nguyễn Bình là người chỉ huy mưu lược, quyết đoán, dũng cảm, giữ kỉ luật nghiêm minh, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Ông có công trong việc thống nhất lực lượng kháng chiến ở Nam bộ và xây sựng Ban công tác thành (biệt động) Sài Gòn. Tháng 2 năm 1952, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh truy tặng ông Huân chương Quân công hạng Nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được tặng Huân chương cao quý này.

Sau khi ông qua đời, nhiều sách báo viết về ông như một hiện tượng đặc biệt về tài nămg quân sự những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.

Năm 2000, Bộ Tư lênh quân khu VII đã di chuyển hài cốt ông về an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh. Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Theo Danh nhân Hưng Yên

Bình luận

Tối thiểu 10 chữ Tiếng việt có dấu Không chứa liên kết

Gửi bình luận
Phó Đức Chính – người anh hùng hiên ngang lên máy chém
Phó Đức Chính sinh năm 1907, người làng Đa Ngưu (nay thuộc xã Tân Tiến) huyện Văn Giang, xuất thân trong một gia đình Nho học. Ông học trường Cao đẳng Công chính Hà Nội.
Dương Phúc Tư sinh năm 1505, người xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm. Ông thân sinh là Dương Phúc Hưng đỗ cử nhân, làm quan chức Thị giảng học sĩ.
Theo sắc phong và tộc phả, bà Chúa Mụa tên là Trần Thị Cư, quê quán làng Mụa (thôn Cộng Vũ) xã Vũ Xá, huyện Kim Động ngày nay.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh - người khởi xướng công cuộc đổi mới
Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1/7/1915 (19/5 Ất Mão) tại làng Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ.
Trái trang 1 - Trang chủTrái trang 3 - Trang chủTrái trang 3 - Trang chủ