Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh - người khởi xướng công cuộc đổi mới

00:00 13/04

Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1/7/1915 (19/5 Ất Mão) tại làng Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ.


Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1915-1998)

Thời niên thiếu, ông Cúc phải chịu đựng biết bao điều bất hạnh: 5 tuổi đã mồ côi mẹ, 11 tuổi, thân phụ qua đời. Từ đó Nguyễn Văn Cúc sống nhờ vào sự đùm bọc của người chú ruột là Nguyễn Văn Hùng - một người có học thức, làm ở Sở dây thép Hải Phòng. Ông Hùng tuy đông con vẫn giành sự ưu ái chăm sóc với người cháu mồ côi cha mẹ nhưng giàu nghị lực của mình. Sống trong cảnh nước mất, nhà tan, ông Cúc đã sớm có tinh thần yêu nước và tham gia vào các tổ chức cách mạng của Đảng. Quá trình hoạt động của Nguyễn Văn Linh từ thời trẻ đến khi giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, đến nay người biên soạn chưa có điều kiện tìm hiểu đầy đủ. Dưới đây là những nét tiêu biểu trong đời hoạt động của ông được công bố nhân ngày đồng chí giữ chức Tổng Bí thư (Báo Nhân dân ngày 19/12/1986).

Năm 1929 ông tham gia tổ chức Học sinh Đoàn do Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội lãnh đạo.

Ngày 01/5/1930, tham gia rải truyền đơn chống thực dân Pháp, bị giặc bắt, kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo. Ông là một trong những tù nhân trong án chính trị trẻ nhất lúc bấy giờ.

Năm 1935, Mặt trận Bình dân nắm chính quyền ở Pháp, thực hiện mở rộng tự do, dân chủ. Thực dân Pháp ở Đông Dương trả tự do cho một số tù chính trị, trong đó có Nguyễn Văn Cúc. Cũng trong năm đó ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương rồi được cử về Hải Phòng hoạt động. Tại đây, ông đã cùng các đồng chí xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng trung kiên và tổ chức quần chúng tin cậy, thành lập Đảng bộ lâm thời Hải Phòng.

Năm 1936, Nguyễn Văn Linh được Đảng điều vào công tác ở thành phố Sài Gòn, tham gia Ban chấp hành Đảng bộ thành phố. Cuối năm 1939, chiến tranh thế giới bùng nổ, do chính sách khủng bố trắng trợn của thực dân Pháp, nhiều cơ sở cách mạng trong cả nước bị khủng bố và tan rã, ông được phân công ra Trung kỳ bắt liên lạc với cơ sở Đảng còn lại ở các tỉnh để lập lại Xứ ủy.

Đầu năm 1941, ông bị địch bắt, đưa vào Sài Gòn, xử 5 năm tù và đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Nguyễn Văn Linh được trở về Nam Bộ, trực tiếp tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến ngay trong lòng thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn với cương vị Bí thư Thành ủy, Bí thư Đặc khu ủy. Từ năm 1949, ông Tham gia Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ.

Từ năm 1957 đến năm 1960, ông phụ trách Quyền Bí thư Xứ ủy Nam Bộ.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960) ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, trên cương vị Phó Bí thư và Bí thư, ông đã cùng Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo quân và dân miền Nam làm cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước từ những năm tháng đen tối đến mùa xuân lịch sử toàn thắng (năm 1975).

Tổ quốc Việt Nam được thống nhất, ông được phân công trở lại làm Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử vào Bộ Chính trị, Ban bí thư Trung ương Đảng, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Trưởng Ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Dân vận và Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Từ cuối năm 1981 đến giữa năm 1986, ông được phân công làm Bí thư Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982) ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Sau đó, ông được cử vào Bộ Chính trị tham gia Ban Bí thư, thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) bầu ông làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Nguyễn Văn Linh là một trong những nhà lãnh đạo của Đảng khởi xướng đường lối đổi mới, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Năm 1987 đồng chí đã phát biểu và viết nhiều bài quan trọng làm sáng tỏ quan điểm đổi mới, đặc biệt là những vấn đề ông nêu ra dưới tiêu đề “Những việc cần làm ngay” mang bút danh N.V.L đã tạo luồng sinh khí mới trong xã hội: Dân chủ, công khai, nói thẳng, nói thật có tác dụng thúc đẩy các cấp, các ngành, các tổ chức giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc trong thực tế cuộc sống hàng ngày, đấu tranh chống tiêu cực tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong nếp nghĩ, cánh làm của mỗi người. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) ông thôi giữ chức Tổng Bí thư và làm Cố vấn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Ông qua đời tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 27 năm 4 năm 1998.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông Nguyễn Văn Linh đã từng trải biết bao gian khổ về vật chất và tinh thần, đã bình tĩnh trước mọi hiểm nguy và biến cố, có niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, có tầm nhìn chiếc lược và tình thương yêu đồng bào, đồng chí sâu sắc nên ở bất cứ cương vị nào, ông cũng mang hết sức lực cống hiến cho Đảng, cho dân.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Nguyễn Văn Linh đã có những đóng góp quan trọng và có hiệu quả vào việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Là tổng Bí thư của Đảng trong nhiệm kì đầu tiên của thời kì đổi mới, ông đã cùng tập thể chủ động sáng tạo, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những bước hiểm nghèo trong thời kì đất nước ta đang lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Ông đã kiên trì thực hiện đổi mới có nguyên tắc – đổi mới nhưng luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện “Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”.

Trong cuộc sống hàng ngày, Nguyễn Văn Linh luôn thẳng thắn, trung thực, sâu sát với thực tế. Ông là một mẫu mực về sự giản dị, liêm khiết, dân chủ và kiên quyết chống tham ô, lãng phí, phô trương hình thức. Ông rất được đồng bào, đồng chí tin yêu, kính phục.

Do có công lao và thành tích đối với cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác. Vì công lao xây đắp tình hữu nghị, ông được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng thưởng Huân chương Vàng quốc gia, Nhà nước Cu Ba tặng thưởng Huân chương Hô-xê Mac-ti, Nhà nước Campuchia tặng thưởng Huân chương Ăng-co.

Ông mất ngày 27/4/1998 tại thành phố Hồ Chí Minh, thọ 84 tuổi.

Là một cán bộ ưu tú của Đảng có những đóng góp to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp đổi mới đất nước, năm 2003, tỉnh Hưng Yên đã cho xây dựng Nhà tưởng niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại quê hương ông: Thôn Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ. Công trình được khánh thành và đưa vào sử dụng ngày 17/9/2004.

Tăng Bá Hoành

Bình luận

Tối thiểu 10 chữ Tiếng việt có dấu Không chứa liên kết

Gửi bình luận
Phó Đức Chính – người anh hùng hiên ngang lên máy chém
Phó Đức Chính sinh năm 1907, người làng Đa Ngưu (nay thuộc xã Tân Tiến) huyện Văn Giang, xuất thân trong một gia đình Nho học. Ông học trường Cao đẳng Công chính Hà Nội.
Dương Phúc Tư sinh năm 1505, người xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm. Ông thân sinh là Dương Phúc Hưng đỗ cử nhân, làm quan chức Thị giảng học sĩ.
Theo sắc phong và tộc phả, bà Chúa Mụa tên là Trần Thị Cư, quê quán làng Mụa (thôn Cộng Vũ) xã Vũ Xá, huyện Kim Động ngày nay.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh - người khởi xướng công cuộc đổi mới
Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1/7/1915 (19/5 Ất Mão) tại làng Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ.
Trái trang 1 - Trang chủTrái trang 1 - Trang chủTrái trang 1 - Trang chủ
Trái trang 4 - Trang chủTrái trang 4 - Trang chủ