Phạm Công Trứ - bậc hiền tài thứ nhất sau đời Trung hưng

00:00 21/12

Trọn cuộc đời Phạm Công Trứ đã góp phần xây dựng triều đình, củng cố đất nước. Trong các lĩnh vực: Chính trị, quân sự, văn học, sử học, pháp luật. ông đều có những cống hiến quan trọng, có đức tốt, có danh vọng, công lao sự nghiệp là bậc hiền tể thứ nhất sau đời Trung hưng.

Phạm Công Trứ, người làng Liêu Xuyên, huyện Đường Hào (nay là thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ).

Ông sinh ngày 17 tháng 3 năm 1599. Cha ông là Phạm Cai, tri huyện Hoài An ở đạo Sơn Nam nay là vùng Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Mẹ là Nguyễn Thị Liên.

Sinh thời, Phạm Công Trứ tính tình cương trực và nhân hậu. Hơn mười tuổi, Phạm Công Trứ đã nổi tiếng là người giỏi văn thơ. Lớn lên vào học trường huyện Đường Hào và được xếp vào bậc “nhiêu học”. Năm 29 tuổi, ông đỗ đồng Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 10 đời vua Lê Thần Tông (1628) và được giao giữ chức Thái thượng tự khanh Hàn lâm hiệu thảo.

Năm Tân Mùi (1631), ông được giao giữ chức Hiến sát sứ trấn Thanh Hóa.

Năm Kỷ Mão (1639), ông giữ chức Phụng Thiên phủ doãn rồi làm Tham chính tự khanh được tham gia việc Nội phủ.

Năm Dương Hòa, Nhâm Ngọ (1642), ông được thăng chức Tán lý đạo Sơn Nam coi giữ việc binh.

Trong 2 năm Quý Mùi (1643) và Giáp Thân (1644), ông được lệnh theo chúa Trịnh Tạc đem quân đánh dẹp quân Nguyễn Phúc Lan ở phía Nam và quân Mạc ở phía Bắc. Do có công, năm Ất Dậu, niên hiệu là Phúc Thái thứ 3 đời vua Lê Chân Tông (1645), Phạm Công Trứ được giao Phó Đô ngự sử và gia phong tước Khánh Yến bá, sau đó lên chức Ngự sử đài Chính chưởng.

Năm 1657, ông được phong Đặc tiến kim tử, Vinh lộc đại phu, Lễ bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ, hàm Thiếu bảo, tước Yến quận công.

Năm 1660, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 3, ông dâng sớ xin kiệm ước dùng văn võ, thưởng phạt nghiêm minh, được triều đình chấp thuận và thực hiện.

Năm Tân Sửu (1661), ông đem đại quân đi đánh Nguyễn Phúc Tân ở Thuận Hóa. Thắng trận trở về ông được phong hàm Thiếu Bảo tước Quận công. Năm Nhâm Dần (1662), niên hiệu Vạn Khánh, triều đình cử ông trông coi Quốc Tử Giám và làm Tham tụng ở phủ Chúa Trịnh. Thời gian này ông còn cho xây dựng bia tiến sĩ tại huyện Đường Hào quê ông, khích lệ kẻ có tài, rèn luyện nho phong.

Đầu đời Cảnh Trị, ông được phong Lại bộ Thượng thư.

Năm Ất Tỵ (1665), ông được Tây vương Trịnh Tạc giao cho việc khảo đính bộ sách Sử ký toàn thư. Phạm Công Trứ cùng các cộng sự dày công nghiên cứu, ông đã dấn từ họ Hồng Bàng đến Ngô sứ quân để làm Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, theo trước tác của Ngô Sỹ Liên. Ngoài ra, ông đã tham khảo thêm tài liệu dã sử của Đăng Bính và các sách sử đương thời để bổ sung thêm, gọi chung là Đại Việt sử ký toàn thư, gồm 25 tập. Cũng trong thời gian này ông đã biên soạn bộ sách Bốn mươi bảy điều giáo hóa bổ sung cho luật Hình, xây dựng đạo đức góp phần giữ vững kỷ cương phép nước.

Vào năm Đinh Mùi (1667) và Kỷ Dậu (1669), Phạm Công Trứ cùng chúa Trịnh Căn cầm quân đánh bại quân Mạc tại Cao Bằng, chặn đứng âm mưu của nhà Thanh (Trung Quốc) mượn cớ “Phù Mạc diệt Lê” xâm lược nước ta.

Sau 40 năm phục vụ đất nước, năm Mậu Thân ( 1668), vua phong chức Quốc lão cho ông, được tham dự các việc cơ mật trong triều. Cùng thời gian này, ông dâng sớ xin nghỉ hưu ba lần mới được nhà vua chấp thuận. Khi về hưu, ông được thăng Thái Bảo, chúa Trịnh tặng ông đôi câu đối thêu vào cờ:

Điều đỉnh nại, nhiếp âm dương, triều đình trụ thạch
Hoàn quy mô, định hiệu lệnh, quốc gia đống lương.

 

Nghĩa:

Nêm canh đỉnh vạc, điều hòa khí âm dương, làm cột đá cho triều đình
Định ra các hiệu lệnh, hoàn thành được quy mô, là rường cột của Nhà nước.

 

Năm Quý Mùi (1673), triều đình lại mời ông ra làm tể tướng, coi việc 6 bộ, tham tán các việc cơ mật.

Ông mất năm 1675, thọ 76 tuổi. Vua Lê thương tiếc tặng phong Thái tể, thụy là Trung cần. Trọn cuộc đời ông đã góp phần xây dựng triều đình, củng cố đất nước. Trong các lĩnh vực: Chính trị, quân sự, văn học, sử học, pháp luật. Phạm Công Trứ có những cống hiến quan trọng, quả là rường cột của Nhà nước.

Nhận xét về ông, trong Lịch triều hiến chương loại chí Phan huy Chú viết: “Ra đương việc nước 49 năm (ông) đặt ra phép tắc, sửa soạn kỷ cương, đè nén những kẻ cậy thế nhũng loạn, yêu chuộng những người có phong cách tiết tháo, có đức tốt, có công lao sự nghiệp, là bậc hiền tài thứ nhất sau đời Trung hưng”.

Tác phẩm của ông có:

Đại Việt sứ ký toàn thư: Bản kỷ thực lục và bản kỷ tục biên

47 điều giáo hóa

17 bài thờ chép trong Toàn Việt thi lục

Theo Danh nhân Hưng Yên

Bình luận

Tối thiểu 10 chữ Tiếng việt có dấu Không chứa liên kết

Gửi bình luận
Phó Đức Chính – người anh hùng hiên ngang lên máy chém
Phó Đức Chính sinh năm 1907, người làng Đa Ngưu (nay thuộc xã Tân Tiến) huyện Văn Giang, xuất thân trong một gia đình Nho học. Ông học trường Cao đẳng Công chính Hà Nội.
Dương Phúc Tư sinh năm 1505, người xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm. Ông thân sinh là Dương Phúc Hưng đỗ cử nhân, làm quan chức Thị giảng học sĩ.
Theo sắc phong và tộc phả, bà Chúa Mụa tên là Trần Thị Cư, quê quán làng Mụa (thôn Cộng Vũ) xã Vũ Xá, huyện Kim Động ngày nay.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh - người khởi xướng công cuộc đổi mới
Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1/7/1915 (19/5 Ất Mão) tại làng Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ.
Trái trang 1 - Trang chủTrái trang 1 - Trang chủTrái trang 1 - Trang chủTrái trang 1 - Trang chủ
Trái trang 4 - Trang chủTrái trang 4 - Trang chủ