Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác

14:11 05/10

Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, quê ở Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay là xã Liêu xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

Theo gia phả của dòng họ Lê Hữu, ông sinh ngày 12 tháng 11 năm 1724 trong một gia đình có 6 tiến sĩ ( ông là con của tiến sĩ Lê Hữu Mưu, là cháu gọi Thượng thư bộ Binh Lê Hữu Kiều là chú ruột).

Ông là con thứ 7 nên gọi là
Chiêu Bảy. Theo Hải Dương phong vật chí  thì ông còn có tên là Lê
Hữu Huân, nhưng theo sách Văn Xá Lê tộc thế phả thì ông là Lê Hữu Trác.

Đóng

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 

Lúc nhỏ, ông theo cha lên Thăng Long học. Nổi tiếng thông minh học giỏi, ông cùng một số bạn bè lập ra một “ Thi xã” ( Hội thơ) ở Hồ Tây để cũng nhau xướng họa. Tính ông hào mại phong lưu, thích giao du với bạn bè, được Chúa Trịnh hết lòng yêu mến. Đương thời gọi ông là “ Nhà thơ Lý Đỗ phong lưu”. Năm 20 tuổi, ông bỏ đường cử nghiệp, chuyển sang học xõ từng tham dự nhiều trận mạc, hy vọng trở thành một võ tướng có tài. Nhưng buổi bấy giờ vua Lê chỉ còn là hư vị, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn còn đang giao tranh, ông chán công danh lánh về ở ẩn nơi quê mẹ là làng Thượng Phúc, huyện Hương Sơn, trấn Nghệ AN ( nay là huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Ông chuyên tâm nghiên cứu ý học, xây dựng sự nghiệp y học dân tộc để trị bệnh cứu người, với một ham muốn phần nào giúp cho xã hội bớt đi những đau khổ. Tài năng đạo đức của ông vang dội khắp trong nước.

Ngày 12 tháng Giêng năm 1781, ông được lệnh của chúa Trịnh Sâm ra kinh đô Thăng Long chưa bệnh cho Thế tử Trịnh Cán. Trong thời gian này ông viết Thượng Kinh ký sự ghi lại sinh hoạt trong phủ của vua Lê, chúa Trịnh. Trịnh Sâm nể tài muốn giữ ông lại trong triệu, trọng thưởng ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ. Ông chối từ và trở về Hương Sơn ngày 2 tháng 11 năm 1782 để vui cái vui của thiên hạ, lo cái lo của thiên hạ, bởi trị bệnh cứu người là mục đích của đời ông.

Không chỉ biết làm thuộc chữa bệnh ông còn để công dạy nghề y và viết sách. Bộ Y tông tâm lĩnh đồ sộ gồm 28 tập, 66 quyển ông viết trong gần 40 năm. Đây là một công trình kế thừa trước tác y học của nhiều thế hệ, được coi là bộ Bách khoa toàn thư y học của thế kỉ 18, loại sách này thời kì đó, trên thế giới cũng chỉ mới xuất bản rất ít. Trong đó ông đã xây dựng thành hệ thống toàn bộ: Lý, Pháp, Phương, Dược của nền y học Việt
Nam.

Lê Hữu Trác không những là một nhà y học, dược học vĩ đại có kiến thức uyên thâm, ông còn là nhà thơ, nhà văn xuất sắc, một nhà tư tưởng tiến bộ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân đạo. Sau khi mất, ông được nhân dân và giới y học cả nước suy tôn là bậc “ Y thánh của Việt
Nam” và được thơi chung với Đại danh y Tuệ Tĩnh ở Y miếu Thăng Long.

Tác phẩm của ông có:

-         Hải Thượng y tông tâm lĩnh, gồm 66 quyển

-         Vệ sinh quyết yếu

-         Y hải cầu nguyện

-         Hành giản trân nhu, gồm 2210 phương thuộc đơn giản trị 126 loại bệnh

-         Bách gia trân tàng, gồm 644 bài thuộc kinh nghiệm

-         Tâm đắc thần phương, gồm 70 bài thuộc chọn lọc

-         Hiệu phỏng tân phương

-         Y dương án

-         Y âm án

-         Nữ công thắng làm

-         Thượng Kinh ký sự

Theo Danh nhân Hưng Yên

Bình luận

Tối thiểu 10 chữ Tiếng việt có dấu Không chứa liên kết

Gửi bình luận

Tin cùng chuyên mục

Phó Đức Chính – người anh hùng hiên ngang lên máy chém
Phó Đức Chính sinh năm 1907, người làng Đa Ngưu (nay thuộc xã Tân Tiến) huyện Văn Giang, xuất thân trong một gia đình Nho học. Ông học trường Cao đẳng Công chính Hà Nội.
Dương Phúc Tư sinh năm 1505, người xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm. Ông thân sinh là Dương Phúc Hưng đỗ cử nhân, làm quan chức Thị giảng học sĩ.
Theo sắc phong và tộc phả, bà Chúa Mụa tên là Trần Thị Cư, quê quán làng Mụa (thôn Cộng Vũ) xã Vũ Xá, huyện Kim Động ngày nay.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh - người khởi xướng công cuộc đổi mới
Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1/7/1915 (19/5 Ất Mão) tại làng Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ.
Trái trang 1 - Trang chủTrái trang 3 - Trang chủTrái trang 3 - Trang chủ